Tư Vấn Luật Hình Sự: Tội Lừa Đảo Chiếm Đoạt Tài Sản

Xin chào đội ngũ Luật sư DFC, tôi có một vấn đề về lừa đảo chiếm đoạt tài sản cần quý Luật sư công ty tư vấn giúp tôi. Tôi hiện đang mua một ngôi nhà tại một dự án của Công ty AC. Mặc dù không có dự án xây dựng nhà ở, không có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, X là Giám đốc của Công ty TNHH Tư vấn Đầu tư Xây dựng AC và là kế toán của Công ty AC đã mạo nhận đảm đương dự án xây dựng Nhà ở của Công ty Thương mại SG và Công ty Nông lâm, Ngư nghiệp TP thuộc sở hữu của Công ty AC. X và T đã thiết lập một bản vẽ cho khách hàng xem. 15 nạn nhân đã tin tưởng và ký hợp đồng mua đất với Công ty AC với tổng giá trị hơn 10 tỷ đồng. Tôi là một trong số 15 nạn nhân đó, vụ việc sau đó được phát hiện khi cả 15 người và trong đó có tôi đều không nhận được tài sản nhà đất đó.

Luật sư tư vấn hình sự DFC - 19006512
Luật sư tư vấn hình sự DFC – 19006512

Vậy Luật sư DFC cho tôi được hỏi như sau:

  • Hành vi của X và T cấu thành tội phạm gì?
  • Tôi và các khách hàng có thể lấy lại tiền không?
  • X và T phải chịu phạt bao nhiêu năm tù?

Luật sư tư vấn Luật hình sự: Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến Công ty Luật DFC, qua sự việc mà bạn đã trình bày, chúng tôi xin được tư vấn như sau:

Theo BLHS 2015, hành vi cố ý đưa ra thông tin gian dối, không đúng sự thật nhằm làm cho chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản tin là sự thật với mục đích chiếm đoạt tài sản đó là hành vi khách quan của Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Hành vi gian dối được thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau như bằng lời nói, băng hành động, bằng việc sử dụng các giấy tờ giả mạo,…

Trong vụ việc, X và T đã cố ý đưa ra thông tin sai lệch về dự án nhằm thực hiện hợp đồng mua bán với 15 khách hàng, chiếm đoạt số tài sản là hơn 10 tỷ đồng. X và T đã nhận tài sản từ người khác để chuyển bất hợp pháp thành tài sản của mình. Như vậy, hành vi của X và T cấu thành Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Do đó, nếu khởi kiện ra Tòa án, X và T có trách nhiệm phải hoàn trả lại toàn bộ số tiền đã chiếm đoạt trái pháp luật. 

Trách nhiệm pháp lý mà X và T phải chịu được quy định rất cụ thể tại khoản 4 Điều 174 BLHS 2015 đối với Tội lừa đảo nhằm chiếm đoạt tài sản, cụ thể:

“4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:
a. Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên”

Như vậy, giá trị mà X và T đã lừa đảo chiếm đoạt tài sản là trên 10 tỷ, X và T có thể bị Tòa án tuyên bố mức phạt tù từ 12 đến 20 năm hoặc tù chung thân.


Nếu còn bất kỳ thắc mắc nào
Hãy liên hệ với Văn Phòng Luật DFC – Phone: 1900.6512
Email: thunodfc@gmail.com hoặc luatsudfc@gmail.com
VPMB: LK, 28 Lê Trọng Tấn, Dương Kinh, Hà Đông, Hà Nội, Việt Nam
VPMN: Số 16, đường số 1, KDC Cityland, phường Tân Phú, quận 7, TPHCM

Leave a Reply

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *