Thời Hiệu Thi Hành Bản Án Trong Bộ Luật Hình Sự Là Gì?

Chế định về thời hiệu thi hành bản án là một trong những chế định quan trọng trong pháp luật hình sự ở Việt Nam, về thực tiễn khi áp dụng cũng gặp rất nhiều những khúc mắc và gây hiểu nhầm cho người áp dụng, hy vọng bài viết dưới đây của Luật sư Công ty Luật DFC sẽ giúp bạn đọc phần nào làm rõ được những vấn đề này. 

Xem thêm:  HÌNH PHẠT LÀ GÌ? Ý NGHĨA CỦA HÌNH PHẠT TẠI NƯỚC TA

Thời hiệu thi hành bản án là gì?
Thời hiệu thi hành bản án là gì?

1. Thời hiệu thi hành bản án 

Theo quy định của pháp luật hình sự thì thời hiệu thi hành bản án hình sự là khoảng thời hạn do Bộ luật hình sự quy định mà khi hết thời hạn đó người bị kết án về hành vi phạm tội, pháp nhân thương mại bị kết án không phải chấp hành bản án mà Tòa án đã tuyên.

Thời hiệu thi hành bản án hình sự đối với người bị Tòa án kết án được quy định cụ thể trong BLHS năm 2015 như sau:

  • Đối với phạt tiền, cải tạo không giam giữ hoặc xử phạt tù từ 03 năm trở xuống thì thời hiệu sẽ là 05 năm;
  • Đối với trường hợp phạt tù từ 03 năm đến 15 năm thì thời hiệu là 10 năm;
  • Đối với trường hợp phạt tù từ 15 năm đến 30 năm thì thời hiệu là 15 năm;
  • Đối với trường hợp phạt tù chung thân đến tử hình thì thời hiệu là 20 năm;
  • Đối với pháp nhân thương mại thời hiệu thi hành bản án hình sự là 05 năm.

Thời hiệu thi hành bản án dân sự thời hiệu thi hành án hình sự sẽ được tính từ ngày bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật. Trường hợp vẫn còn trong thời hạn thi hành bản án của Tòa án mà các cá nhân, pháp nhân thương mại lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm một tội mới thì thời hiệu nghiễm nhiên sẽ được tính từ ngày thực hiện hành vi phạm tội mới đó.

Trong trường hợp mà người phạm tội bị kết án mà cố tình trốn tránh mà cơ quan có thẩm quyền đã ra quyết định truy nã thì thời hiệu sẽ được tính từ ngày người đó ra đầu thú trước pháp luật hoặc bị cơ quan chức năng bắt giữ.

2. Miễn chấp hành hình phạt

– Người được kết án được Nhà nước cho miễn chấp hành hình phạt khi có quyết định được đặc xá hoặc đại xá.

– Người bị kết án bị cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù có thời hạn đến 03 năm mà chưa chấp hành hình phạt thì khi có đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát, Tòa án có thể quyết định về việc miễn chấp hành hình phạt, nếu người phạm tội thuộc một trong các trường hợp dưới đây:

a) Sau khi bị kết án người phạm tội đã lập công;

b) Người phạm tội mắc các căn bệnh hiểm nghèo;

c) Người phạm tội tuân thu, chấp hành tốt các quy định của pháp luật, có hoàn cảnh gia đình ở dạng đặc biệt khó khăn và xét thấy người đó không còn có khả năng gây nguy hiểm cho xã hội nữa.

– Người bị kết án phải chấp hành hình phạt tù có thời hạn trên 03 năm, mà chưa chấp hành hình phạt nếu đã có những hành động để lập công lớn hoặc mắc các căn bệnh bệnh hiểm nghèo và người đó không còn khả năng thực hiện các hành vi nguy hiểm cho xã hội nữa, thì khi có văn bản đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát, Tòa án có thể xem xét quyết định hoãn chấp hành hình phạt tù cho người phạm tội.

– Người bị kết án phạt tù đến 03 năm, mà đã có quyết định được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt, nếu xét thấy trong thời gian được tạm đình chỉ mà người phạm tội đã tiến hành việc lập công hoặc chấp hành tốt các quy định của pháp luật, đồng thời xét thấy người này có hoàn cảnh gia đình đặc biệt khó khăn và xét thấy người đó không còn tính chất nguy hiểm cho xã hội nữa, thì khi có đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát, Tòa án có thể xem xét để đưa ra các quyết định miễn chấp hành phần hình phạt tù còn lại cho người phạm tội.

– Người bị kết án phạt tiền đã có thái độ tích cực chấp hành được một phần hình phạt nhưng sau khi xét thấy người phạm tội bị lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn kéo dài do các nạn như thiên tai, hỏa hoạn, tai nạn hoặc ốm đau gây ra mà không thể tiếp tục việc chấp hành được các phần hình phạt còn lại hoặc thực hiện việc lập công lớn, thì khi có đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát, Tòa án có thể xem xét để đưa ra các quyết định miễn chấp hành phần tiền phạt còn lại.

– Người bị phạt cấm cư trú hoặc quản chế, nếu đã chấp hành được một phần hai thời hạn hình phạt và thực hiện việc cải tạo tốt, khi có đề nghị của cơ quan thi hành án hình sự cấp huyện nơi người phạm tội đó phải tiến hành chấp hành hình phạt, Tòa án có xem xét để có thể quyết định miễn chấp hành phần hình phạt còn lại đối với người phạm tội.

– Người được miễn chấp hành hình phạt theo quy định tại Điều 62 BLHS năm 2015 này vẫn phải thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ về dân sự theo BLDS năm 2015 do Tòa án tuyên trong bản án đối với người phạm tội đó.

3. Giảm thời hạn chấp hành hình phạt

Người đang chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ hoặc hình phạt tù được xét giảm thời hạn về việc chấp hành hình phạt khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau đây:

a) Đã thực hiện việc chấp hành được một phần ba thời hạn đối với hình phạt cải tạo không giam giữ, hình phạt tù từ ba năm trở xuống hoặc mười hai năm đối với việc chấp hành hình phạt tù chung thân;

b) Chấp hành nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật; thành thật ăn năn hối cải, tích cực vào việc lao động, học tập, tu dưỡng bản thân;

c, Thực hiện tốt các chế độ, nội quy, quy tắc của Trại giam (Trại tạm giam) (đối với trường hợp người đang phải chấp hành hình phạt tù);

d) Được cơ quan, tổ chức hoặc các cơ quan chính quyền địa phương được giao cho việc trực tiếp thực hiện việc giám sát, giáo dục (đối với trường hợp người đang phải thực hiện việc chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ) hoặc cơ quan thi hành  án phạt tù (đối với người đang thực hiện việc chấp hành hình phạt tù) đề nghị bằng văn bản xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt.

Mọi vấn đề cần thắc mắc mời bạn đọc liên hệ với Luật sư tư vấn Luật hình sự qua Hotline 19006512 để được tư vấn chi tiết nhất. Xin chân thành cảm ơn !


Hãy liên hệ với Văn Phòng Luật DFC – Phone: 1900.6512
Email: thunodfc@gmail.com hoặc luatsudfc@gmail.com
VPMB: LK, 28 Lê Trọng Tấn, Dương Kinh, Hà Đông, Hà Nội, Việt Nam
VPMN: Số 16, đường số 1, KDC Cityland, phường Tân Phú, quận 7, TPHCM

Leave a Reply

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *